Hotline: 0834 331 631
Email: doquangcenter@gmail.com
Giới Thiệu

ĐỖ QUANG - NGƯỜI TRI THỨC SUỐT ĐỜI CHIẾN ĐẤU VÌ HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN VÀ SỰ TOÀN VẸN CỦA LÃNH THỔ VIỆT NAM 

"Bài phát biểu của GS AHLĐ VŨ KHIÊU trong lễ kỉ niệm 135 năm ngày mất của Danh Nhân ĐỖ QUANG  

tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội ngày 22-9-2001"

I

Hôm nay, chúng ta làm giỗ ông Đỗ Quang, người trí thức toàn diện về đạo đức, trí tuệ và tài năng, tiêu biểu cho những danh sĩ hàng đầu Thế kỷ XIX.

Với truyền thống lâu đời của trí thức Việt Nam, Đỗ Quang đã sớm đi theo con đường học giỏi, đỗ cao để tham gia vào bộ máy Nhà Nước và từ đó phấn đấu cho sự phồn vinh của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.

Cũng có những người gặp nhiều trở ngại trong cuộc sống, bị trói buộc và vùi dập dưới chế độ phong kiến, không phát huy được chí hướng của mình, đành ôm mối hận suốt đời, trở thành những  bi kịch của lịch sử.

Đằng sau những tri thức chân chính ấy, còn có những kẻ chỉ biết đi học, thi đỗ rồi ra làm quan, bóc lột nhân dân, tham nhũng và hưởng lạc trên xương máu của nhân dân.

Trong cuộc đời của mình, người trí thức chân chính sống một cuộc sống thanh đạm  “Mong manh áo vải hồn muôn trượng”, họ khác hẳn một trời một vực với những kẻ chỉ biết có danh có lợi, coi tiền tài, địa vị là những mục tiêu cao nhất.

Tô Tần xưa kia đã từng cố gắng học tập,  lấy dây buộc tóc lên xà nhà, lấy dùi đâm vào đùi để cho tỉnh ngủ. Về sau Tô Tần đã đạt tới tột đỉnh của “vinh quang” , làm Tướng quốc của sáu nước, ông ta trở về quê lên mặt với vợ mình, với chị dâu và bà con quê hương đứng đón tiếp ở dọc đường.

Nguyễn Du có lần đi qua mộ Tô Tần, đã bày tỏ sự khinh ghét của mình đối với con người này qua một bài thơ. Nguyễn Du nhắc lại câu nói của Tô Tần bảo với vợ và chị dâu: “ Xưa kia khinh rẻ ta, sao bây giờ lại cung kính thế” . Nguyễn Du coi lời nói đó của Tô Tần thật là bỉ ổi: “Tiền cứ hậu cung, ngôn thậm bỉ!”.

Cao Bá Quát tiễn người bạn là Nguyễn Trúc Khê đi nhậm chức ở Phủ Thường Tín, đã nhắc nhở ông này rằng:  “Làm quan có hai con đường, một là làm chim loan, chim phượng để bảo vệ nhân dân. Hai là làm chim diều, chim cắt để bóc lột nhân dân. Bạn về nhậm chức ở quê hương Chu Văn An và Nguyễn Trãi, hãy học tập hai nhân vật tuyệt vời đó”.

Cao Bá Quát viết trong bài thơ của mình:

Tài trai sống ở trên đời đã không làm được việc phơi gan,

Bẽ gãy chấn song, giữ vững cương thường

Lại ngồi nhìn bọn lang sói nghênh ngang

Đến lúc tuổi già thì mặc áo gấm ban ngày  về bôi nhọ quê hương.

Cũng không làm nổi việc mài mực ở mũi lá mộc,truyền hịch định bốn phương.

Chỉ cúi đầu luồn mái nhà thấp, nhụt cả khí phách

Đến lúc già thì gối đầu vào vợ con mà chết.

Theo Cao Bá Quát thì những bọn đó sao đáng gọi là trí thức.

Lịch sử của dân tộc ta từ xưa đã nêu lên những nẻo đường khác nhau, mục tiêu khác nhau trước sự lựa chọn của người trí thức Việt Nam. Đỗ Quang đã đi theo đường nào và ông đứng ở vị trí nào của người trí thức?

 

II

 

Đỗ Quang sinh ngày 23 tháng 9 năm Đinh Mùi (1807)  trong một gia đình Nho học, trí thức nghèo ở một quê hương hiếu học, có thuần phong mỹ tục  là thôn Vĩnh Dụ, xã Văn Lư, tổng Hội Xuyên, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

Với truyền thống gia đình trí thức và quê hương văn hóa, lại có tư chất thông minh, Đỗ Quang đã sớm đi học và học giỏi: 19 tuổi dỗ tú tài, 22 tuổi đỗ cử nhân, đã được bổ nhiệm ở kinh đô, vẫn vừa học vừa làm, 25 tuổi lại thi đỗ tiến sĩ. Ông đã mở đầu cuộc đời trí thức của mình với những thành công vẻ vang là học giỏi, đỗ cao. Thi đỗ rồi tất yếu ra làm quan. Theo tinh thần đạo Khổng, có ra làm quan mới có cơ hội và điều kiện thi thố tài năng, gánh vác công việc của xã tắc, giúp ích cho đời. Đó là con đườngc công danh, con đường mà lớp lớp sĩ phu luôn theo đuổi.

Ra làm quan Đỗ Quang đã gặp rất nhiều gian nan, thử thách, nhưng cũng là dịp để ông tự rèn luyện, mở rộng kiến thức thực tế để từ đó suy nghĩ về thời cuộc, về tình dân, thế nước.

Ông từng làm Tham tri ở 4 bộ: bộ Lại, bộ Lễ, bộ Hộ, bộ Binh và làm Thị Lang ở bộ Công. Có thể nói ông đã tham gia ở hầu hết các bộ trong triều, và từ đó hiểu được chỗ mạnh,  yếu của bộ máy nhà nước. Ông lại am hiểu tình hình xã hội, tình cảnh nhân dân suốt từ Bắc vào Nam do chỗ ông từng làm việc ở rất nhiều địa phương trong toàn quốc. Ông đã làm quan tại các huyện Bố Trạch, Lệ Thủy, Bình Chánh, từng giữ chức Tri phủ ở Diễn Châu, làm Ám sát Quảng Trị - Quảng Bình, làm Tuần phủ Định Tường, Bố chánh Nghệ An, Bố chánh Nam Định, Tuần phủ Gia Định.

Trên lĩnh vực văn hóa, có thể nói ông đã tham gia hầu hết các công việc của người trí thức:

  • Về giáo dục: Ông từng giữ chức Kinh Diên nhật giảng quan, đảm nhiệm việc giảng kinh sách cho vua và các quan.
  • Về nghiên cứu: Ông được giao công việc biên soạn sách, giữ chức Biên tu ở Viện Hàn Lâm, rồi Sở Thực lục, làm Toản tu ở Quốc Sử quán.
  • Đào tạo nhân tài cho đất nước: Ông 9 lần được cử đi chấm thi, từ thi Hương, thi Hội đến thi Đình. Ông nổi tiếng là vị giám khảo uyên bác và công minh, đáng tin cậy của sĩ tử bốn phương.

Với sự trưởng thành và phát triển toàn diện như trên, ông là một người kết hợp được kiến thức cao nhất của xã hội với tình hình mọi mặt của đất nước lúc đó. Chính vì thế mà ông đã tỏ ra sáng suốt, nhạy bén, đầy quyết tâm và nghị lực trước mọi tình huống cần giải quyết.

 

III

 

Trong cuộc đời làm quan, Đỗ Quang rất thanh liêm, chính trực, hết mực yêu thương nhân dân và được nhân dân thực lòng quý mến.

Xưa nay, trong hàng ngũ những người làm quan, không dễ mấy ai cũng được như Đỗ Quang, chiếm được tình cảm sâu đậm, chân thành nhất của đông đảo tầng lớp nhân dân. Được vậy, trước hết Đỗ Quang đã làm việc hết mình để chăm lo cuộc sống của dân. Ông năng xuống tận thôn xóm để thị sát tình hình, thông cảm tình cảnh đói khổ của dân chúng ở các vùng quê nghèo, chú ý tra xét công việc của quan lại, nghiêm trị bọn cường hào ức hiếp dân chúng. Ông sức cho các huyện phủ phải “rút bớt phiền hà, răn điều hư, làm điều thực, giảm dân công, nhẹ thuế khóa, bớt thu tài lực của dân, lấy việc cố kết lòng người làm gốc”.

Về sự gắn bó của Đỗ Quang với nhân dân, tôi có ghi mấy câu như sau:

Hiểu dân từ kẽ tóc chân tơ

Thăm dân tận thôn cùng ngõ hẻm

Thương dân nghèo khi vợ đói con đau

Giúp dân khổ khi thóc cao gạo kém

Đường nhân nghĩa, vẹn tấm trung can

Việc xét xử, lừng danh thiết diện

Trị bọn tham gian

Bênh người lương thiện

Tiếc thay một sự việc đáng buồn đã xảy ra với ông khi ông làm Tuần phủ Định Tường. Năm 1850 ông bị kết án là quản lý không chặt, để bọn lái buôn người Thanh trốn thuế. Ông bị cách chức Tuần phủ và gọi về triều để xét tội. Cảm động là ngày ông lên đường về kinh chịu tội, nhân dân lũ lượt tiễn đưa ông, níu áo ông mà khóc. Trước sự kiện này, tôi xúc động viết mấy câu tế ông như sau:

Ngày về chịu tội, quan lên yên, oan ức ngậm ngùi

Phút lên đường, dân níu áo khóc thương quyến luyến

Công và tội đảo điên đen trắng, hoàn cảnh này vua chúa có hay

Quan với dân thắm thiết cha con, tình nghĩa ấy xưa nay cũng hiếm

IV

Điểm nổi bật của Đỗ Quang là trước sự xâm lược của Thực dân Pháp,  ông đã kiên cường chống ngoại xâm, dấn thân trên tuyến đầu, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.

Năm 1860, Đỗ Quang được bổ nhiệm Tuần phủ Gia Đình, khi thành Gia Định bị thất thủ vào tay giặc Pháp tháng 2 năm 1859.  Cũng năm 1860, Nguyễn Tri Phương được cử làm Thống tướng quân vụ đại thần thay Tôn Thất Cáp. Tôn Thất Cáp là Tổng chỉ huy mặt trận Gia Định đã án binh bất động, đối phó tiêu cực, bỏ lỡ thời cơ đuổi giặc.

Nguyễn Tri Phương là người yêu nước chống việc chủ hòa, đã được Đỗ Quang sát cánh trợ giúp, ông đã đánh lui nhiều cuộc tiến công của giặc. Nhưng Nguyễn Tri Phương không nắm bắt được tình thế, không thấy hết được sức mạnh của nhân dân, ông thực hành chiến lược cũ “công thủ” , vừa đánh vừa giữ, nên cuối cùng cũng không xoay chuyển được cục diện kháng chiến.

Tháng 2 năm 1861, quân Pháp tập trung binh hỏa lực công phá dữ dội Đại Đồn. Sau 2 ngày chiến đấu quyết liệt, súng quân ta không chống nổi đại bác của quân địch. Đại Đồn thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương, phải rút quân về đồn Thuận Kiều.

Đỗ Quang không tán thành việc rút quân. Ông yêu cầu cho quân trở lại, vì “Tuy Đại Đồng thất thủ nhưng còn đất, còn dân ta còn đánh được”.  Nhưng rồi chẳng bao lâu Thuận Kiều cũng mất và  sau đó cả 3 tỉnh Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long cũng bị quân Pháp chiếm lấy. Quân triều đình phải rút về Biên Hòa và ra miền Trung. Đỗ Quang không chịu rút theo, ông bí mật quay lại Gia Định cùng nhân dân chống giặc.

Cùng hợp sức với ông ở vùng Gia Định, có các văn thân yêu nước: Tri huyện Âu Dương Lân, cử nhân Phan Văn Trị, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Các ông lại hợp sức với Trương Định để mở rộng và đẩy mạnh phong trào kháng chiến rộng lớn trong nhân dân. Khi Trương Định được nhân dân và nghĩa quân tôn làm Bình Tây Đại Nguyên Soái. Đỗ Quang được giao chức Đốc biện quân lương, phụ trách công việc tuyển mộ nghĩa binh, quyên góp lương thảo. Những chiến công hiển hách của nghĩa quân Trương Định đều có sự đóng góp tích cực của Đỗ Quang.

Tiếc rằng giữa lúc phong trào kháng chiến của nhân dân ta đang dâng cao và giặc Pháp còn đang lung túng thì triều đình Huế lại tỏ ra rất bạc nhược, nhường hẳn cho Pháp 3 tỉnh miền Đông (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) và đảo Côn Lôn. Hiệp ước ký với Pháp ngày 5 tháng 6 năm 1862 còn quy định: Triều đình Huế có trách nhiệm truy lùng, bắ giữ và giao nộp cho Pháp tất cả những ai có hành động chống chính quyền Pháp mà còn ẩn áu trong vùng thuộc triều đình cai trị (điều 9), và phải chấm dứt tất cả các cuộc khởi nghĩa, phải gọi tất cả các thủ lĩnh nghĩa quân ra ngoài miền Đông Lục tỉnh (điều 11).

Thực hiện các điều khoản cam kết trong Hiệp ước Triều đình Huế ra lệnh cho Trương Định ngừng bắn , giải tán nghĩa quân và điều ông đi nhậm chức Lãnh binh tỉnh An Giang . Không thể chấp nhận được, Trương Định tuyên bố dứt khoát: “Nếu còn nói tới hòa nghị với giặc thì chúng tôi phản đối mệnh lệnh của Triều đình”.

Đối với Đỗ Quang, triều đình Huế cũng ra lệnh triệu ông về Kinh làm Tham tri Bộ hộ sung chức Tuần phủ tỉnh Nam Định. Cũng không thể chấp nhận mệnh lệnh này, ông đã dâng sớ từ quan.

Bài sớ của Đỗ Quang, lời hay ý đẹp, tình cảm chân thành, tư tưởng thanh cao, nội dung sâu sắc , có thể xem là một áng văn yêu nước tuyệt tác trong nuc73 sau thế kỉ 19 ở nước ta. Bài sớ viết:

“… Ngày tôi ra về, kẻ sĩ và nhân dân đón chật đường mà nói rằng: từ nay cha bỏ con, quan bỏ dân, quan về lại làm quan, còn dân thì  không được làm dân của triều đình nữa. Tiếng khóc nghẽn đường. Tôi cũng phải gạt nước mắt mà ra đi. Trộm nghĩ, tôi tầm thường kém cỏi, không có tài cán, nhưng lâu nay quanh quẩn với dân, vốn không dám nghĩ đến ngày được sống trở về. Nay tôi được gọi về, còn nghĩa sĩ nghĩa dân thì không được vì triều đình mà góp sức góp của nữa, không biết đặt mình vào đâu. Như thế là tôi, trên đã phụ triều đình, dưới phụ tram họ, rõ ràng không còn có thể chối cãi. Nếu lại nhậm chức ở địa phương Nam Định, thì đối với nhân dân Gia Định, biết nói sao đây? Đối với thiên hạ biết nói thế nào? Tôi có chút lòng người biết xấu hổ, nên cúi xin tha cho về vườn ruộng để cho hả cái nỗi phẫn oán của nhân dân và để còn giữ được cái tiết liêm sỉ của thần hạ”.

Ở bài sớ này, tâm sự của Đỗ Quang được giãi bày cặn kẽ một cách tự nhiên. Đó là tiếng nói chân thật thốt lên từ đáy lòng, không màu mè, giả dối. Tình cảm yêu nước thương dân của Đỗ Quang tự nó tràn ra theo “tiếng khóc nghẽn đường” của nhân dân và kẻ sĩ, ông cố gạt đi mà nước mắt cứ đầm đìa trên khuôn mặt.

Với tấm lòng của người làm quan, tự xét mình ở cương vị làm cha mẹ dân, gắn bó với dân như tình cha con, ông không chỉ thương dân mà còn lo cho dân rồi đây “không biết đặt mình vào đâu”. Người dân của ông nồng nàn yêu nước, sôi sục thù giặc, sẽ sống và chiến đấu như thế nào, khi giặc còn đó mà quân triều đình đã rút hết.

Đỗ Quang đặc biệt trân trọng, coi là thiêng liêng và vô cùng quý báu những tình cảm tốt đẹp mà nhân dân, những “công luận của thiên hạ” đối với hành vi đạo đức của ông. Cho nên “biết nói sao đây với nhân dân” , “nói thế nào trước công luận” ? Làm gì để khỏi hổ thẹn, để “hả nỗi phẫn oán của nhân dân” , “để giữ được cái tiết liêm sỉ” ?  Trên cơ sở suy nghĩ ấy, ông quyết định từ  quan. Thà làm trái lệnh vua chứ không thể phụ lòng yêu thương và tin cậy của nhân dân.

Sớ dâng lên không được chuẩn y, Đỗ Quang buộc phải đến nhiệm sở nhưng còn lòng dạ nào mà làm quan được nữa. Chỉ ít lâu sau, ông cáo ốm, xin về quê dưỡng bệnh và chăm sóc mẹ già. Sau đó, ông lại bị triệu tập gắt gao nhiều lần về kinh, miễn cương làm Tham tri Bộ hộ, Tham tri Bộ binh, Tuần phủ Bắc Ninh. Mỗi nơi làm việc một thời gian ngắn, rồi ngã bệnh nặng. Ông được phép về ngỉ ở quê và mất ngày 7 tháng 8 năm Bính Dần (1866), thọ 60 tuổi.

Từ khi Đỗ Quang buộc phải rời khỏi miền Nam khói lửa và sau đó ông đã qua đời, mang theo một mối hận không thể nào nguôi là không được tiếp tục chiến đấu. Lớp người này ngã xuống, lớp người khác lại vùng lên…

Năm 1945, 80 năm sau ngày ông mất, đồng bào miền Nam ruột thịt của ông, những con cháu của đồng bào ông thuở trước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, giương cao ngọn cờ cứu nước, mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Nam. Năm 1975, 110 năm sau ngày mất của ông, đồng bào cả nước đã giành lại toàn vẹn Tổ quốc độc lập và thống nhất, thực hiện nguyện vọng lớn nhất của bản thân ông và của cả dân tộc.

V

 Ngày hôm nay, chúng ta làm giỗ Đỗ Quang, tưởng nhớ ông và cùng rút ra những bài học quý báu mà ông để lại cho nhân dân ta và đặc biệt là cho trí thức Việt Nam:

1 – Đã là trí thức phải như Đỗ Quang, thực sự hiểu sâu, biết rộng, vươn tới đỉnh cao trí tuệ của thời đại. Ngày nay đất nước ta đang cần vượt mọi khó khăn thử thách để tồn tại và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa về nền kinh tế tri thức. Chưa bao giờ chúng ta lại cần một đội ngũ trí thức có đầy đủ bản lĩnh và tài năng như ngày nay. Tinh thần học hỏi của Đỗ Quang và của các thế hệ trí thức chân chính của dân tộc đang cổ vũ trí thức và thanh  niên Việt Nam phát huy truyền thống thông minh và sáng tạo của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh có ý nghĩa quyết định này, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực trí tuệ.

2 – Người trí thức chân chính như Đỗ Quang phải có một hoài bão lớn về dân tộc mình: Tổ quốc phải độc lập, lãnh thổ thống nhất, nhân dân phải được hạnh phúc. Mục tiêu phấn đấu ấy là sức mạnh suốt đời thôi thúc tâm hồn và trí tuệ của Đỗ Quang. Cùng thời với Đỗ Quang, còn bao nhiêu trí thức khác ở trong Nam, ngoài Bắc đã sống theo tinh thần ấy của Đỗ Quang: Thủ Khoa Huân, Trương Định, Phan Tòng đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Nguyễn Đình Chiểu lấy bút làm gươm, cổ vũ toàn thể đồng bào vùng lên chống bọn cướp nước và bán nước.

3 – Đối với Đỗ Quang, nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Phạm Văn Nghị, Nguyễn Công Trứ, xin triều đình vào Nam đuổi giặc. Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu bỏ mình trong chiến đấu để bảo vệ thành Hà Nội. Nhân dân miền Nam “đi trước về sau” , “Thành đồng Tổ quốc” đã bằng máu của mình viết nên những bài ca anh hùng cứu nước. Thanh niên miền Bắc “xẻ dọc Trường Sơn” vào Nam, sẵn sàng xả thân cho sự nghiệp độc lập, thống nhất. Tình ruột thịt của toàn thể đồng bào đã tạo nên sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, đánh thắng mọi kẻ thù, hoàn thành mọi nhiệm vụ.